Một Thủa Yêu Đàn

 

Phạm Văn Kỳ Thanh là bút hiệu của nhạc sĩ Phạm Mỹ Lộc, bằng  hữu văn nghệ gần 30 năm ở San Jose. Anh tốt nghiệp cử nhân luật đại học Sài Gòn, du học Hoa Kỳ trước năm 1975, hiện đang hành nghề  luật sư tại California. Yêu ca nhạc từ thuở học sinh cho đến bây giờ, kiến thức phong phú. Bài viết anh về kỷ niệm học đàn tây ban cầm thú vị. TCP

Một Thủa Yêu Đàn

Phạm Văn Kỳ Thanh
Quãng thời gian September 15 đến September 19, 1975 là thời gian hạnh phúc nhất của tôi vì được tham dự Guitar Master Class với Michael Lorimer, học trò duy nhất của Andres Segovia tại Bay Area – San Francisco, Oakland, Berkeley… Maestro Segovia đi đâu cũng “gieo hạt” tuyển chọn học trò. Theo tôi được biết đến 1975 học trò của Segovia ở miền Bắc California có Michael Lorimer và miền Nam California có Christopher Parkening. Thời gian ấy trên thế giới được học phương pháp của Segovia là coi như được theo “chính phái”. Vì, không phải nói thêm những người chơi guitar cổ điển đều biết công của Segovia đối với sự xây dựng repertoires và mang cây đàn này “len” vào các nhạc viện trên thế giới như thế nào. Sự truyền bá kỹ thuật guitar của Segovia không những được học trò phổ biến khắp trên thế giới, còn được hoạ sĩ cũng là một guitarist có hạng người Ukraine chủ bút tạp chí Guitar Review, Vladimir Bobri viết hẳn cuốn sách “The Segovia Technique” với những hình vẽ tuyệt đẹp về các thế bấm những ngón tay của bàn tay trái trên cần đàn; cách để các ngón bàn tay phải trên giây đàn khi đánh ép giây (rest stroke) hay móc giây (free stroke); cách để móng tay và thế ngồi đánh đàn. Một phong cách thật là hàn lâm được truyền bá cho đến bây giờ. Sau này xem youtube những master classes của Segovia tôi mới thấy sự “độc tài” của ông về “phong cách chơi đàn trường phái Segovia”. Thật vậy, Fred Benedetti đã nói trên youtube về chuyện các thế bấm (fingering), cách diễn với tinh thần âm nhạc nghiêm chỉnh bài Chacone của Bach ông bắt các học trò phải tuân theo. Cũng như võ nghệ, các bậc thầy thế giới đều muốn truyền bá tinh hoa nghệ thuật theo trường phái của mình. Có mỗi chuyện để móng tay hay không để đánh đàn mà ông Emilio Pujol (một trong học trò của Fransisco Tarrega, những người kia là Pascuel Roch, Miguel Llobet…) phải viết cả một quyển sách về chuyện này. Nói như thế về văn học nghệ thuật, âm nhạc phải để “trăm hoa đua nở” thì hơn. Trường phái Segovia thì chăm chút về cách để móng tay để tạo tiếng đàn tinh tuý. Còn Narcisso Yepes, theo tôi được biết thì hình như dùng phần thịt của đầu móng tay để đánh trên giây đàn.

Ôm cây đàn mấy chục năm từ lúc 10 tuổi, đến khi dự Master Class của Michael Lorimer thì cũng thấy chưa nắm được vạt áo của Segovia. Vì theo đuổi “chính phái” cho nên mới “vất vả” như vậy. Cũng phải nói thêm, tôi được biết Michael Lorimer cũng do Lê Danh Hiển “danh cầm guitar của sinh viên Việt Nam tại San Francisco” vào cuối thập niên 69, đầu 70. Thật sự Lê Danh Hiển học violon tại Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, sau hắn bỏ và tập guitar. Vì thế hắn có bàn tay trái khi chơi guitar khá có lợi thế. Có một hôm trời mưa lâm râm Hiển rủ tôi sang Berkeley để gặp Michael Lorimer. Sau một tiếng đồng hồ mất toi 20 dollars chỉ được nghe thầy nói chuyện cách để móng tay, các thế bấm của bàn tay trái trên cần đàn, cách đánh ép giây, móc giây, phương pháp tăng khả năng đọc nhạc guitar. Sau cùng thầy kết luận là về học lại bài số 5 của “20 etudes” của Fernando Sor. Theo thời giá thì 20 dollars thủa đó sinh viên như chúng tôi cũng đi chợ ăn được cả mười ngày. Nhưng cơn “bốc” vì say mê guitar cũng phải “bấm bụng” mà chịu. Tóm tắt là Michael Lorimer nói về tập lại từ đầu từng nốt một trên giây và áp dụng “rest stroke” và “free stroke”. Đó còn chưa kể phải tập lại bài số 5 vừa nói để hiểu đâu là bè chính đâu là bè phụ (musicianship). Sau đó hẹn thầy để học tiếp. Phần thì “đường trường” guitar còn quá dài, lại phải học chương trình cao học kinh tế khá nặng nên tôi dù yêu đàn cũng phải hẹn “em” ít lâu nữa. Còn Hiển tuổi trẻ say máu mang Chacone của Bach ra tập tháng này qua tháng khác. Thật sự Chacone là repertoire của violon viết lại cho guitar, nên đã học violon, Hiển cũng có lợi thế khi tập, ít nhất là cách diễn nhạc (music interpretation). Cứ cuối tuần lại gặp nhau để nghe đĩa của Julian Bream chơi nhạc Bach. Hiển cũng “hăng tiết vịt” tập Suite in E minor của Bach. Tôi mới ở Việt Nam sang thì cũng chỉ chơi loanh quanh mấy bài giới guitar Sài Gòn ham chuộng như “La flute enchante” ( “Variations on a theme by Mozart”), “La feste Larianne”, “Recuerdos de la Alambra”, “Valses Venezolanos”, “Asturias”, “Sonate en Do” (của Paganini)…nói chung là repertoires rất là cũ kĩ. Vì thế Bach đối với tôi có một sự quyến rũ lạ lùng nhất là những Lute suites. Quãng thời gian này thật đẹp, cuối tuần gặp nhau chỉ bàn chuyện kỹ thuật Fugue của Bach. Kết thúc giai đoạn này là một concert nhỏ ở nhà ông một giáo sư âm nhạc trường San Francisco State University, Paul E. Handley, với sự trình diễn của Lê Danh Hiển (guitar), Đặng Xuân Thìn (piano, đang học về composition ở SFSU) và tôi (guitar). Về bài bản thì Hiển chơi hai “Etudes số 4 và 8” của Villa Lobos, “Suite in E minor” của Bach, “Fantasia para un gentil hombre” của J. Rodrigo (Thìn đệm piano), “Etude in E minor của F. Sor”. Tôi chơi “Sonata in C của N. Paganini”, “Variations on a Mozart Theme” của F. Sor, “Two Galliards” của J. Dowland, “Pavana” của Gasper Sanz. Tôi cũng đánh chung với Thìn (piano) “Sonatine in A major” của A. Diabelli. Về phần piano Thìn không chuyên nghiệp về piano, nhưng vì học composition nên hắn phải tập piano, nghề chính hắn học Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn là viola. Vì thế repertoires piano là những bài dễ như “Arabesque” của C. Debussy, “Three fragments for piano” (do Thìn sáng tác), “Sonata N.2 in C major” (Mozart), “Prelude N.22 in G minor” (F. Chopin). Sau concert này các bạn đàn đều phải lo học và đi làm nên thỉnh thoảng mới gặp nhau hoặc lên cơn nhớ đàn thì đánh vài tiếng cho “thoả nỗi nhớ mong”. Hoặc là tập scales để duy trì technique.

Như đã nói trên, 5 năm sau (1975) tôi ghi danh và học guitar master class với Michael Lorimer ở San Francisco. Tôi cũng đã học xong cao học kinh tế nên đi làm lai rai cũng có tiền. Tôi còn nhớ học phí rất đắt nhưng vì “yêu đàn” nên “liều mạng” vét hết savings
đóng cho Michael Lorimer. Lớp này kéo dài từ September 15 đến September 19, 1975 tại trường Hamlin (trường tiểu học của con nhà giầu San Francisco).

Bây giờ Segovia master classes được posted đầy trên youtube nên giới chơi guitar thời nay cũng không cho những lớp này là huyền thoại ghê gớm dành cho “quí tộc guitar”.
Tôi chỉ muốn ghi lại đây những kỷ niệm “yêu đàn” đầy thơ mộng, “dại khờ” (vét hết savings đi học đàn). Nhưng đây cũng không phải lần đầu “dại khờ” về đàn. Tháng 3 năm 1971, vừa chân ướt chân ráo đặt chân đến San Francisco, Lê Danh Hiển đã dẫn tôi đến một hiệu đàn ở Stone Town gần SFSU “tham quan”. Cả vốn liếng mang đi từ Sài Gòn có 640 dollars để đóng tiền học và chi phí ăn ở, tôi đã lên “cơn sốt guitar” bỏ ra 275 dollars để mua cây đàn Martin rất đẹp, nhỏ gọn. Martin không chủ trương làm đàn tiếng vang ầm ầm theo khuynh hướng Tây Ban Nha như Ramirez. Mới ở Sài Gòn sang nên thẩm âm của tôi vẫn ảnh hưởng đàn Phúc Lợi ở đường Nguyễn Thiện Thuật, tôi “bất mãn” vì cây đàn mới mua không vang. Tôi bèn đến Agcaoili ở đường Filmore đổi lấy cây đàn Yamaha. Cũng may chủ studio là người Mỹ gốc Philippines cũng tử tế, ông chơi đàn violon nên thông cảm với tôi trả lại cho tôi thêm một ít tiền và còn có nhã ý mời tôi dậy đàn. Thế là tôi đã yên tâm không đói vì có việc kiếm ra tiền rồi. Sau đó ông còn cho tôi thuê một phòng trong căn nhà của ông ta ở khu “black is beautiful”. Tôi nghĩ mình là dân Annam thì có gì mà phải sợ mấy “hắc công tử”. Nhưng bạn bè đến thăm tôi cũng hơi “hãi” khu này. Ông người Phi chủ studio Agcaoili rất là mê violon, nhưng tôi thấy ông “đánh vật” thật là vất vả với bài “Thai’s Meditation” của Massenet hàng đêm, nhưng âm thanh vẫn bị “faux”. Tôi khéo léo khuyên ông nên tập piano cho “đỡ vất vả”. Vì giá chót gõ vào phím là nó kêu liền, còn “faux” hay không là tại đàn (không lên giây đúng) chứ không phải tại mình. Nhưng tôi quí ông Agcaoili vì ông là ân nhân giúp cho tôi công việc để kiếm tiền sinh sống những ngày đầu đến Mỹ du học. Điều tôi quí ông nhất là cho tôi đổi thoải mái những cây đàn hay nhất của studio với giá vốn.

Thôi chết tôi lạc đề rồi, phải trở lại cái vụ học master class với Michael Lorimer. Tóm tắt trong 5 ngày master class thầy dậy chúng tôi được hai phần. Phần một là cách ngồi, cách bấm, cách đánh trên giây đàn. Phần hai là cách diễn với tinh thần âm nhạc (music interpretation).

Phần Một.

-Về cách ngồi thì phải thẳng lưng, thoải mái. Đàn tựa trên đùi trái, chân phải kéo xuống gần chân ghế ngồi. Đàn phải hơi chếch 100 độ so với mặt đất.

-Cách chọn cây đàn:

Để ý đến tiếng thật của đàn, đừng để ý đến tiếng vang của phụ âm. (Không cái dại nào giống cái dại nào, cũng vì cái tai kém cỏi tôi đã đổi cây đàn Martin lấy Yamaha 5 năm trước). Thế là Michael Lorimer “rũa” thậm tệ cây đàn Ramirez và ca tụng Hermann Hauser (may mà không đến tai Segovia). Thật vậy, những ngày đầu đến San Francisco (1971) tôi thường lai vãng ở hiệu đàn ở đường Union San Francisco và Paragon Music ở Berkeley để chiêm ngưỡng cây đàn Hauser (khoá trong tủ kính). Đôi khi tôi phải năn nỉ chủ hiệu đàn cho tôi reo vài cung đàn cho đỡ ghiền. Gía cây đàn Hermann Hauser hồi đó là 6000 dollars. Số tiền này có thể đặt cọc để mua một căn nhà nhỏ. Tôi cũng không đủ sức để “yêu đàn”. Kỳ thật Hermann Hauser đúng là một “mỹ nhân thầm kín” (introvert) không có ồn ào (extrovert) như anh chàng Ramirez, tuy nói to nhưng không rõ nét. Ngồi xa hay gần tiếng thủ thỉ rõ và trong của Hauser cũng đến tai người nghe. Vì thế các virtuoso không dùng microphone khi đánh recital với cây đàn Hermann Hauser. Mở một dấu ngoặc, hồi đó tôi cũng có lòng yêu cây đàn Konoh của Nhật, không hiểu giờ này “nàng” còn có mặt trên thị trường không khi có chàng “trai trẻ” Smallman xuất hiện (người chế đàn Smallman sống ở trong rừng Úc Châu, sún cả răng. Tuy vậy mà danh cầm John Williams cũng phải lặn lội vào rừng thăm chàng luthier “khiếm răng” này. Đàn của chàng không rẻ ít nhất cỡ 30 nghìn dollars và bây giờ backlog đặt đàn phải 10 năm sau mới lấy được.)
-Kỹ thuật diễn nhạc:

. Nhạc của Villa Lobos có nhiều chromatic chord progressions. Cho nên khi di chuyển tay trái trên cần đàn chỉ để nhẹ ngón út lấy điểm tựa và nhấc những ngón trỏ, giữa và áp út khỏi cấn đàn để tránh tiếng cọ sát trên giây đàn.

. Vibrato: Có hai lối vibrato. Một “là” lay ngang theo mặt cần đàn. Hai “là” lay dọc theo cần đàn. Có khi vibrato cả chord.

. Cách “strike” ngón tay phải trên giây: phải “strike” thật nhanh và rất khoát trên giây, tiếng đàn mới rõ và thanh.

. Phải nắm vững nhịp của bài bản, nhưng phải hiểu rõ cú pháp (syntax) của câu nhạc diễn cho tự nhiên tránh không máy móc như cái metronome. Phải tìm hiểu rõ nguồn gốc của bài nhạc, nỗi lòng của tác giả khi sáng tác (để tránh vui buồn lẫn lộn) và style (phong cách) của ông hay bà ấy.

-Xây dựng bài bản (repertoires):

. Thích Baroque, thì nên làm quen với nhạc luth của Bach.
. Thích Classique thì làm quen với nhạc clavecin, piano…Mozart.
. Thich Romantic & Nationalistic thì làm quen với Chopin.
. Thích nhạc Spanish thì làm quen với Manuel de Falla, Joaquin Rodrigo, Mario Castelnuevo Tedesco, Federico Mompu, Tarrega…
. Thích Trung Nam Mỹ thì làm quen với Manuel Ponce, Hector Villa Lobos, Augustin Barrios Mangore, Antonio Lauro…

.Điều quan trọng là nên chọn loại nhạc hợp với lòng (hay tim cũng được) mình. Như thế mới có dịp thủ thỉ, thổn thức với cây đàn của mình (đôi khi phẫn nộ cũng được như mấy chàng xính nhạc Flamenco). Như thế tôi sẽ trở về với Hò, Xàng , Xê, Cống, U, Líu hoặc dân ca Quan Họ (Hãy nghe Maestro Đặng Ngọc Long “thổn thức” với Dân Ca Quan Họ, hoặc guitarists Hoàng Ngọc Tuấn “gõ” “Trống Cơm”, Nguyễn Thế An “vo giây” “Thánh Gióng”…). Tiếc rằng “Hoàng Hạc Lâu” Cung Tiến soạn cho guitar chưa tới mức thử thách cao đồ guitar, nếu không cũng là một repertoire đáng kể cho guitarist Việt Nam như “Tôi đưa em sang sông” (Hồ Đăng Tín soạn từ ca khúc của Y Vũ và Nhật Ngân). Nói vậy chứ “quạt chả” trên guitar như Trần Tiến khi hát cũng không kém vui.

-Luyện thêm ngón đàn:

. Tay phải: mua volume III (trang 52, 53) trong bộ sách 4 cuốn của Emilio Pujol mà tập (bộ sách này được dùng trong hầu hết các nhạc viện trên thế giới bộ môn guitar cổ điển).
Trường phái Segovia không chuộng kỹ thuật tremolo. Vì thế Segovia nhất định không chịu tremolo khi chơi bài “Recuerdos de la Alambra”. Còn John Williams, “hoàng tử” (Segovia gọi J.W. là “the prince of guitar”, vì lúc ấy ông đi đâu cũng có cây trượng hàm ý cho mình là “king”) chơi bài này kém Ana Vidovich, Karin Schauff… (nhưng hơn Kim Chung một tí).
Phần hai

Từ ngày thứ hai trở đi cho đến cuối khoá, một số guitarists được tuyển chọn “làm người mẫu” chơi những repertoires tiêu biểu để Michael Lorimer nói về phong cách diễn nhạc (musicianship).

-Suite Compostalana của Federico Mompu:

. Kỹ thuật harmonic (tiếng chuông): dùng ngón tay bàn tay trái búng thật nhanh khi tay phải đánh vào giây ở phím 5,7,12. Trên phím 12, từ phím 13 thì dùng ngón trỏ bàn tay phải bịt vào nốt muốn đánh và dùng ngón giữa khảy cùng một lúc. Thật ra thì từ phím 13 trở đi thì các nốt nhạc lại giống như phím 1 chỉ có khác cao độ thôi (“mánh” này cũng hay. Chứ không thấy các guitarists cứ đánh từ phím 13 trở đi là phục “sát đất”).

.Lại nói thêm có loại “staccato harmonique”: phải chặn cả ngón (ngón trỏ) của bàn tay trái trên dây giống như barre (chặn) ngón cái đánh vào dây và chặn lại sau khi đánh.

. Khi rải chords thì chếch bàn tay phải làm một góc 60% với dây đàn.

. Michael Lorimer lại khuyên dùng bài tập của Pujol để tập “free stroke” và “rest stroke”, đánh thật rất gióng trên giây đàn để tránh tiếng “puzzle”.

.Muốn “khống chế” được kỹ thuật bài này, guitarist phải tập cho nhuyễn chromatic scales sách do Segovia soạn. Nhưng phải sử dụng 3 ngón i,m,a (trỏ, giữa, áp út). Cái khó là phải luyện 1. Ngón cái (thumb) dùng móng tay (nail) trong khi đó ngón trỏ (i) lại phải dùng thịt đầu ngón tay (flesh) 2. Rồi ngược lại ngón cái (thịt), ngón trỏ (móng). Thật là nhiêu khê như tập làm xiếc. Vì thế khi thấy các danh cầm thế giới trình diễn bài này trên sân khấu người nghe không trong ngành guitar tưởng dễ như “ăn cơm sườn”. Thật sự ngó vậy mà không phải vậy. Phải khổ luyện mới đạt được những kỹ thuật như thế.

. Đây là một loại lullaby “bài ru”, phải chơi cho nó êm ái, em bé mới ngủ được.

. Ý nghĩa tựa đề bài nhạc: Compo: city, Stalana: Star. Movement cuối cùng là dân vũ Tây Ban Nha nhưng âm điệu vui nhộn lại giống Scott Pipe music của Scottish (Tô Cách Lan).

-Sonata III của Manuel Ponce:

. Trong bài nhạc có nhiều cuộc đối thoại giữa các giai điệu (dialogue between melodies). Như vậy phải biết nhấn (accentuation) ở những notes giống như chấm câu. Chứ không giống như nói “tràn cung mây” thì làm gì có đối thoại. Nếu trình độ âm nhạc kém thì không nhận ra điều này. Đó là lỗi chung của những người tự học đàn lấy không có dịp học nhạc sử, hoà âm (harmony), đối âm (đối âm), tòng (tẩu) âm (fugue), nhạc pháp (solfege)…Tuy nhiên không được đào tạo bởi trường ốc nhưng có tinh thần học hỏi của một “học thật” (không học giả) cũng có thể vuợt qua những chướng ngại này.

. Có nhiểu chords trong bài khi pluck thì “búng” tất cả các ngón tay của bàn tay phải cùng một lúc “quyết liệt” (giống anh Ba) nhưng bàn tay phải bất động, đừng “bức xúc”.

-Five baguetteles for guitar của William Walton do Julian Bream transcribes.

Nhạc mới chắc Michael Lorimer không rành nên “lảng” chỉ nói sơ sơ và đánh dạo (“rao” như đàn tranh của thầy Khê và thầy Vĩnh Bảo) vài cung đàn lấy lệ.

-Sonata “Omaggio a Bocherini” của Manuel Castelnuevo Tedesco.

.Khi chơi nhạc Baroque thì các guitarists(loại có đẳng cấp và kỹ tính) thường dùng strap để giữ cho guitar không đụng vào ngực sẽ gây tiếng vang không cần thiết (trong khi đó Đàn Đáy của Việt Nam lại khoét cái rosace ở đằng sau ôm vào ngực để dùng lồng ngực như bộ phận phát âm “table d’harmonique”). Như vậy không thể “sư nói sư phải, vãi nói vãi hay” được. Mỗi nền văn hoá có cách thẩm âm khác nhau.

. Ông thầy cũng khuyên nên tập đàn vào buổi sáng, khi con người còn “tinh khôi” chưa có những toan tính về cuộc sống vào những giờ kế tiếp trong ngày. Thấy học viên không đồng ý ông thầy bèn dung hoà, thôi thì cứ tập vào bất cứ lúc nào thích. Đàn mà, đâu có phải cứ “ép” đánh là được, phải có thích cảm hứng mới lên được chứ.

-Fantasia para un gentil hombre của Joaquin Rodrigo

. Để ý dấu lặng cũng quan trọng như nốt nhạc. Đó là triết lý “on, off” Nhị Nguyên giống như computer. Hát hay đàn cũng cần có một cái pause còn để thở chứ (trừ khi hát “Đồng Song Thanh” kiểu Mông Cổ như nhà nhạc học lừng danh Trần Quang Hải thì khỏi ngưng để thở. Không hiểu ông lấy hơi ở đâu ra? Hay là hơi hàm, hơi óc…giống mấy trưởng thượng Hát Bội.). Ông thầy nói trong bài này chạy những passages của notes thật nhanh nhưng khi ngừng cũng phải khéo léo, không có “vấp ngã”.

-Prelude số III của Hector Villa Lobos.

.Ông thầy chỉ nhắn nhủ khi chạy một chuỗi chords trên cần đàn nên vibrato cho có phong cách “đa tình” kiểu Brasil.

. Giở trang 67 cho đến 69 cuốn số II của Emilion Pujol tập “rest stroke” (ép dây) thì mới đánh bài này hay được.

-Vài điều “Ngư Tiều Vấn Đáp” trước khi Thầy Trò chia tay.

.Không nên dùng trí nhớ và đánh tủ . Như các guitarists thời của tôi ở Sài Gòn ngày xưa, có nhiều người thuộc nhiều bài nhưng bảo nhìn vào nhạc thì chịu thua, là vì học “tủ”. Vì thế khi trình diễn hay bị vấp, nếu quên một đoạn là coi như “tiêu tùng”. Vì đánh đàn cái tay nó chạy nhưng nó bị cái óc nó điều khiển chứ. Trong óc không có dòng nhạc nào đang chạy thì tay quên làm sao nó nhắc? Thành ra phải mua nhiều loại nhạc khác nhau mà tập “sight reading”.

. Nên tiếp xúc với nhiều loại nhạc khác nhau. Vì, mỗi một loại nhạc lại phải xử lý theo phong cách riêng. Đánh nhạc Hector Villa Lobos nhiều sẽ thấy ông hay cho chạy chromatic scales để gây tiếng ồn rộn rã như nhạc punky bây giờ. Sang đến ngài Bach thì bao nhiêu bè chạy loạn xạ, bè nọ đệm cho bè kia “em ngã, chị nâng” theo phong cách fugue. Nếu không quen thì sẽ bị “hoang mang, bồi rối”. Sang đến mấy ông đầu thế kỷ 20 như Debussy, Ravel, Faure…nhạc lung linh mang hồn “Ngũ cung Á Châu, lơ lớ pelog Indonesia…) thi chords bắt đầu xa lạ. Ráng tập làm quen thôi. Đã định làm nghề thì phải chịu khó tổ mới “đãi”. Nếu không lên sân khấu thì “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”. Như vậy chơi Tuba cho khoẻ, ngủ say thỉnh thoảng tỉnh dậy làm vài nốt rồi ngủ tiếp.

. Khoá học cũng không thể chấm dứt dễ dàng như vậy là vì có học viên vẫn thắc mắc là “ông ngoại Segovia” tại sao chơi “Recuerdos de la Alambra” không chịu tremolo mà cứ rải chords từ đầu đến cuối? Trong khi toàn thế giới chơi theo phong cách tremolo. Ngay ở xứ Việt phát triển “không được nhanh” mà ngày xưa có Trần Văn Phú (nay bạn tôi đã ra người thiên cổ. Tôi đã nhường job dạy guitar ở trường âm nhạc Bach của cha Định ở đường Nguyễn Thông cho Phú trước khi đi du học ở Mỹ năm 1971) nay có Kim Chung reo giây p,i,m,a rất là rộn rã trước ngài Đại Sứ Tây Ban Nha ở nhạc viện thành phố.

Không biết Michael Lorimer có biết tremolo hay không nhưng ông ta cũng đề nghị một số phương pháp tremolo như sau:

. Freely & even touch different string.
. Play slowly staccato on one string.
. Play at regular speed staccato on one string.
. Play fast staccato on one string.

Sự nghi ngờ của tôi có khi thật vì không thấy Michael Lorimer đánh một bài nào tremolo bao giờ. Nghe nói khi còn sống Segovia rất đố kị với Augustin Barrios Mangore. Không biết Segovia có chơi nhạc Mangore bao giờ không nhỉ? Nếu ai tìm được đĩa nào về vụ này xin cho nghe ké. Nhưng “hoàng tử guitar” John Williams thì chơi nhạc Barrios Mangore khá hay. Nhưng tôi lại nghĩ Berta Rojas chơi có hồn hơn.

Khi vớ được bài luyện tập của Vladimi Bobri về tremolo (chắc ông lén Segovia xuất bản tập sách này, vì ông là “phó vương” theo phò Segovia) tôi tập ít lâu thì thấy có tiến bộ nhưng không nhiều. Sau này tôi khám phá rằng “Người Hà Nội không vội” (tôi sinh ra ở Thanh Trì Hà Nội nơi nổi tiếng về bánh cuốn ?) khi tôi feel thấy ngón cái “làm bạn” với ngón trỏ, ngón giữa và ngón áp út bàn tay trái. Mới đầu mấy ngón giắt tay nhau đi bộ từ từ, sau thì chạy nhanh lên mà không “rã đám”. Từ đó ngoài “người tình muôn thuở” “Recuerdos de la Alambra”, tôi còn bị những tác phẩm tremolo của Augustin Barrios Mangore “quyến rũ” dứt không ra.

Bây giờ trên thế giới có nhiều danh cầm không nằm trong khuynh hướng Segovia nhưng rất nổi tiếng. Nói về đàn thì mỗi người có một cái tai khác nhau nên cũng có cái gu khác nhau. Riêng tôi qua “đại học” Youtube tôi có cảm tình với những guitarists sau đây:

1. “Vua” Andres Segovia
2. “Hoàng tử” John Willams
3. “Trưởng Thượng” Julian Bream
4. Ernesto Bitetti
5. Oscar Ghiglia
6. Aniello Desidero
7. Karin Schaupp
8. Ana Vidovic
9. Berta Rojas
10. Ana Likhacheva
11. Christophe Parkening
12. David Russell
13. Romeros family
14. Ida Presti & Alexandre Goya
15. Sharon Isbin
16. Narciso Yepes
17. Marcin Dilla Tychy
18. Dimitri Illarionov
19. Goran Kriv
20. Vladimir Gorbach
21. Paola Requena
22. Manuel Barruco

Còn ông thầy Michael Lorimer “lặn” bao năm chẳng thấy có cái đĩa nào cả.

Nhưng, tập đàn cả đời, “kết tình” với người nước ngoải rồi cũng phải “hồi hương” với ao nhà vì cũng đến tuổi về quê “đuổi gà đuổi vịt” trước khi hai tay lơ mơ quơ “bắt chuồn chuồn”. Tôi dồn hết công trình tập guitar để đánh những bài nhạc của mình như “Mây”, “Quê Hương Tuổi Nhỏ”, “ Sài Gòn Đêm Xanh”, “Giọt Lệ Vườn Lệ Chi”…Nhưng, học ngoại nhiều rồi bây giờ tôi đang ôn bài Thầy Trần Văn Khê đã dậy tôi cách đây gần 30 năm trước về nhạc dân tộc để gây dựng làm vốn riêng khảy đàn khi “sớm trông hoa nở, tối chờ trăng lên.”

Tôi phải ngưng ở đây vì nói nhiều lắm khi lạc đề. Cái nghề thầy cãi nó hại tôi là thế.

Cám ơn những độc giả nào đã dành chút thì giờ đọc bài này.

Chiều chủ nhật tại Sài Gòn August 02, 2015

PHAM MY LOC MOT THUO YEU DAN 1

SÀI GÒN EM VẪN CÒN ĐÂY- ANH DŨNG CA

Năm 1998 là năm thành phố Sài Gòn kỷ niệm 300 tuổi. Dù hiện tại đã bị thay tên nhưng thành phố vẫn còn trong lòng người dân Sài Gòn và cả nước. Cảm hứng viết nên ca khúc Sài Gòn Em Vẫn Còn Đây với hình ảnh bùng binh Nguyễn Huệ, Chợ Bến Thành, Bến Bạch Đằng, Nhà Thờ Đức Bà, Chùa Xá Lợi và những con đường theo em chiều giảng đường đại học. Đây là một bản về Sài Gòn đặc biệt, cũng có tiếng rao buổi sáng, câu vọng cổ quen thuộc vùng đất thủ đô Miền Nam. Lởi ca như sau:

” Sài Gòn ơi, dù năm tháng dần qua, dù tên có khác đi, dù bao lớp phế hưng, nhưng em vẫn còn duyên dáng Sài Gòn. Sài Gòn tên vẫn gọi quen, Sài Gòn trên những vành môi, Nhà Bè hai nhánh sông chia, em về Gia Định cho anh theo cùng. Đây Bến Thành chợ đông người qua, khu bùng binh Nguyễn Huệ xôn xao, bến Bạch Đằng dòng sông xuôi nước, những con tàu đi mong ngày trở lại.

Nhà thờ Đức Bà xem lễ Giáng Sinh, chùa Xá Lợi đêm rằm nghe kinh, sân đại học chờ em tan lớp, nhớ những chiều mưa ta đón đưa nhau.

Sài Gòn hàng me xanh lá, dập dìu đôi lứa tìm nhau, bước chân rộn ràng phố phường, áo dài khép nép tóc vương. Sài Gòn lời rao buổi sáng, câu vọng cổ nói lời yêu em, lục huyền cầm đàn nghe man mác, ơi những câu hò êm ái Miền Nam.

Sài Gòn người dân tứ xứ, tìm về dựng xây cuộc sống, ước mơ hòa thành phố tương lai.

Sài Gòn em vẫn còn đây, Sài Gòn yêu dấu gọi tên, và mãi mãi mai sau, và thiết tha hôm nay, Sài Gòn Em Vẫn Còn Đây.”

Bài hát có trong CD Sài Gòn Em Vẫn Còn Đây phát hành năm 1998, hòa âm do Lê Sĩ Dự phụ trách. Ca sĩ Anh Dũng ca bản này.

SAIGON EM VAN CON DAY BIA  anh dung small

Sài Gòn Một Thoáng 40 Năm

 

Sài Gòn Một Thoáng 40 Năm là bài hát mới nhất viết về thành phố Sài Gòn , cũng là ca khúc thứ 10 trong toàn bộ các bài hát lấy cảm hứng từ thành phố đã mất tên từ một ngày khói lửa cuối tháng 4 năm 1975.

30 Tháng 4 năm 1995, đài VOA đã  phát thanh bản Sài Gòn Một Thoáng 20 Năm ; 30 tháng 4 năm 2005 , ba đài VOA, BBC, RFA đã phát thanh bản Sài Gòn Một Thoáng 30 Năm và 30 tháng 4 năm 2015 đài RFA cũng phát thanh Sài Gòn Một Thoáng 40 Năm.

Hai bản trước, tác giả có về Sài Gòn để lấy cảm hứng cho nên cảm xúc mạnh thẻ hiện rõ. Riêng bản Sài Gòn Một Thoáng 40 Năm thì ngồi ở Nam Cali mà tưởng tượng sáng tác.

Cũng chỉ là sự lập lại mơ ước một ngày thành phố Sài Gòn sẽ hồi sinh lấy lại cái tên yêu dấu cũ và hoài vọng về bóng hình người yêu năm xưa.

Trần Chí Phúc hát với cây đàn guitar và tiếng bè phụ họa của Thúy Vi. Giọng ca cũng có vẻ già theo năm tháng so với hai bản kia. Ôi Sài Gòn Một Thoáng 20 Năm, Sài Gòn Một Thoáng 30 Năm, Sài Gòn Một Thoáng 40 Năm; thời gian thấm thoát qua mau.

Xem bản nhạc bằng cách bấm vào đây: SAIGON40NAM-ONEPAGE-FINAL

TIẾNG HÁT ĐĂNG VŨ CHẤT NGẤT NỖI BUỒN TRONG CD LẠY TRỜI CON ĐƯỢC BÌNH YÊN DO TRUNG TÂM ASIA PHÁT HÀNH

Ca sĩ Đăng Vũ mới cộng tác với trung tâm Asia gần đây, anh chỉ xuất hiện chung với Mỹ Huyền, Trúc My trong một ca khúc trong cuốn Asia 76 và chưa được hát một mình đơn ca để diễn tả hết tài năng của mình.

Trung tâm Asia vừa phát hành cuốn CD mới nhất trong tháng 7/2015 với tiếng hát Đăng Vũ- Lạy Trời Con Được Bình Yên- nhạc phẩm này của Lam Phương và lấy làm chủ đề.

Trong CD này có 11 ca khúc gồm những ca khúc nổi tiếng như Tôi Đưa Em Sang Sông, Lạy Trời Con Được Bình Yên, Hận Đồ Bàn, Đoạn Tuyệt, Xin Hãy Quên Tôi, Chắp Tay Lạy Người, Tình Yêu Trả Lại Trăng Sao, Áo Tím Màu Hoa Cà, Tình Lỡ, Em Sắp Về Chưa.

Bài hát đầu tiên là Tôi Đưa Em Sang Sông của Y Vũ Nhật Ngân, Đăng Vũ hát với chất giọng riêng của mình tạo sự mới mẻ cho ca khúc nổi tiếng này. Bản Hận Đồ Bàn của Xuân Tiên thì Đăng Vũ cũng diễn tả nỗi sầu man mác của mình.

Đăng Vũ họ Chế, ba của anh là một quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Với dòng máu của người gốc Chiêm Thành và lớn lên vùng đất Phan Rang và Đà Lạt cho nên giọng nói của anh có nét rất Miền Trung và từ đó cách đọc lời ca của anh khi diễn tả ca khúc bỗng trở nên rất lạ.

Đã từng tốt nghiệp trường Điện Ảnh Nghệ Thuật tại Sài Gòn sau năm 1975, đã từng diễn xuất trong nhiều cuốn phim cho nên Đăng Vũ rất tự nhiên trên sân khấu.

Đặc biệt là Đăng Vũ đã từng đoạt giải vô địch võ tự do tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai với những đường quyền và ngọn cước dũng mãnh hạ gục đối thủ trên võ đài. Tuy vậy tâm địa anh rất hiền lành và vì thế anh đã từ giã nghề võ sĩ để trở thành diễn viên điện ảnh và trở thành ca sĩ.

Có lẽ nhờ nội lực thâm hậu cho nên giọng Đăng Vũ rất mạnh. Trình diễn trên sân khấu thì giọng hát của anh nổi bật và gây sự hấp dẫn khán giả.

Nhạc sĩ Lam Phương và Anh Bằng đều yêu thích giọng hát của Đăng Vũ và cả hai đều không lấy tác quyền những bài hát mà anh thu băng. Có người nói nghệ danh Đăng Vũ là ngọn đèn trong mưa, thì làm sao tỏa sáng được. Nhưng ngọn đèn trong mưa cũng có nét đẹp thơ mộng và hi vọng rằng tiếng hát Đăng Vũ sẽ dần dần được khán giả biết tới và anh sẽ nổi danh.

Có một bí mật cần bật mí là Đăng Vũ có tài coi phong thủy vì anh đã từng theo học nghề nhiều năm với một danh sư ở Sài Gòn trước đây.

Trong lúc này có rất nhiều giọng ca mới trong làng ca nhạc hải ngoại, nhưng tiếng hát Đăng Vũ truyền cảm và có nét riêng. Vóc dáng đẹp trai cũng là một lợi điểm của anh. Các ưu điểm đó sẽ đưa tiếng hát Đăng Vũ đi xa trên con đường nghệ thuật.

Mọi liên lạc về Đăng Vũ xin email: dangvusinger@gmail.com

PHƯƠNG THY

NỮA KHUÔN MẶT CỦA NƯỚC MỸ

Trong cuộc đời này, lý thuyết Aâm Dương là đúng nhất, áp dụng cho mọi trường hợp. Hai yếu tố nghịch nhau này luôn hiện hữu trong mọi sự vật. Hãy nói tới trường hợp của nước Mỹ, Thiện và Aùc. Trên thế giới người ta vẫn ca tụng đất nước Hiệp Chủng Quốc này là thiên đàng hạ giới, nào là nhân quyền, dân chủ, tự do, giúp đỡ các nước nghèo. Nhưng cũng nên nhớ  nước Mỹ là nước bán vũ khí nhiều nhất, đây là món lợi kinh tế của siêu cường duy nhất sau khi phe cộng sản thua cuộc trong chiến tranh lạnh. Càng có đánh nhau thì Mỹ càng bán được nhiều vũ khí. Một phi đạn giá có thể lên tới cả triệu đô la, nghĩa là khoảng một triệu ký thóc, chỉ cần bắn một phát là tiêu hết .
Giống như một bà nhà giàu ăn chay, bố thí nhưng hỏi ra thì mới biết bà ta chứa cờ bạc, mãi dâm và cho vay nặng lãi.
Cái mâu thuẫn của nước Mỹ là như vậy. Hãy nhìn trên màn ảnh truyền hình, bom đạn tối tân nhất của Mỹ đang đổ xuống trên đất nước Iraq, thủ đô Baghdad với những công trình kiến trúc đẹp đẽ đang bị tàn phá, chưa kể là biết bao nhiêu sinh mạng bị cướp đi.
Nhìn cuộc xâm lăng Iraq bởi Mỹ, người ta thấy bất nhẫn giống như là thấy một thằng lớn con đang đánh một thằng bé hơn ở ngoài đường. Nếu bạn thấy cảnh như vậy, bạn có nhảy vào can thiệp hay không. Còn đâu hình ảnh hào hiệp của anh chàng cao bồi Mỹ quốc, không bắn địch thủ khi súng của hắn chưa rút ra khỏi bao. Anh chàng cao bồi Texas , tổng thống Bush con đã không được như cha mình trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh mười hai năm trước được cả thế giới ủng hộ trăm phần trăm. Lần này, Iraq chưa rút súng khỏi bao thì Bush con đã ra tay bóp cò. Ôi cái truyền thống đẹp đẽ của nước Mỹ đã bị chính quyền Bush gồm những tay hiếu chiến và kiêu ngạo làm mất đi. Thật tiếc thay. Nhưng những người biểu tình chống chiến tranh tại San Francisco có cái lý của họ, họ nói chính quyền Bush xâm lăng Iraq chứ nhân dân Hoa Kỳ yêu hòa bình phản đối chuyện đó.
Tôi nghi ngờ về cái thăm dò bảo rằng đa số dân Mỹ ủng hộ Bush xâm lăng Iraq. Ai cũng biết là giới tài phiệt Do Thái nắm truyền thông xứ này, mà Do Thái là tử thù của Iraq. Chắc gì không có gian trá cũng như cuộc bầu phiếu tổng thống năm 2000, cũng giống như tổng thống Johnson năm 1968 đã ngụy tạo ra biến cố vịnh Bắc Việt để lấy cớ thả bom miền Bắc.
Cái Aùc của nước Mỹ là như thế, cũng giống như Mỹ là nước duy nhất và đầu tiên dùng bom nguyên tử để giết mấy trăm ngàn người ở Nhật năm 1945. Cũng giống như bom đạn đang đổ xuống đất nước Iraq trên màn ảnh TV mấy ngày hôm nay. Các tay tài phiệt vũ khí và dầu lửa đang cười khoái trá. Nhân dân Mỹ đang trả thuế để chịu đựng 100 tỷ đô la cho cuộc chiến này nhưng bọn tư bản thì đang nhẩm tính bao nhiêu đơn đặt hàng vũ khí sắp tới và những giếng dầu lửa của Iraq sẽ phân phối sao cho có lợi nhất.
Nhìn Thái Cực đồ, trong nữa vòng tròn đen có một chấm trắng và nữa vòng tròn trắng có một chấm đen. Trong cái Thiện đẹp đẽ của đất nước Hoa Kỳ có một điểm Aùc. Cuộc xâm lăng Iraq do chính quyền Bush tiến hành tháng ba năm hai ngàn lẽ ba là điểm đen trong lịch sử nước Mỹ. Thế giới từ nay sẽ bất ổn hơn khi LHQ trở nên vô dụng, nước lớn tha hồ ăn hiếp nước nhỏ, dân Mỹ bị nhiều kẻ thù hơn và luôn sống trong lo ngại. Giàu có mà sống không thoải mái, không được người người mến phục thì có sướng gì. Nước Mỹ sẽ là như thế.
21-03-2003

ĐÁNH IRAQ

Mười hai năm trước vào năm 1991, tổng thống Bush ( cha) hướng dẫn đồng minh đánh đuổi quân Iraq ra khỏi Kuwait. Trong vòng mấy ngày cuộc chiến đã nhanh chóng kết thúc vì Mỹ với vũ khí tân kỳ hơn dễ dàng đánh bại Iraq với vũ khí cũ của Nga. Chưa bao giờ cả thế giới đồng lòng ủng hộ như trong cuộc chiến giải phóng Kuwait . Chính Liên xô lúc đó còn Gorbachev là tổng bí thư , mặc dù là nước đàn anh của xứ dầu lửa này cũng phải bảo Saddam Hussein rút quân nhưng anh chàng độc tài này cứ ngoan cố, rút cuộc thảm bại. Nhưng số trời còn cho Saddam hưởng phước nên thay vì tiến thẳng vào thủ đô Baddag, tổng thống Bush lại ra lệnh dừng và tuyên bố cuộc hành quân đã hoàn tất.
Người ta ngạc nhiên không hiểu tại sao Bush (cha) lại không diệt trừ Saddam, có thể là lý do giữ ông ta lại để kìm sự bành trướng của Iran. Trước đó mấy năm trong cuộc chiến Iran và Iraq thì Hoa Kỳ đã đứng về phía Iraq. Khi hai nước Hồi giáo này ngưng chiến thì Iraq còn lại bao nhiêu vũ khí trong tay, cộng thêm mộng bá chủ vùng Trung đông của Saddam Hussein đã làm Do thái và Mỹ lo ngại.
Chính câu tuyên bố của bà đại sứ Mỹ tại Kuwait làm Iraq hiểu lầm là Mỹ sẽ không can thiệp nếu Iraq chiếm Kuwait năm 1991 và Iraq đã sụp bẫy. Nhân cơ hội chiến tranh vùng Vịnh năm này đã chặt đi tay chân của con cọp dữ vùng sa mạc dầu lửa. Với lệnh cấm vận của LHQ suốt mười hai năm nay, nước Iraq sống trong thiếu thốn mặc dù có nguồn tài nguyên dầu lửa hàng nhì thế giới sau Saudi Arabia.
Đó là chuyện Iraq của mười hai năm trước, bây giờ là năm 2003, Bush (con) lên làm tổng thống, chuyện cũ khơi lại. Với chủ thuyết mới được đưa ra sau biến cố 9-11 là Mỹ sẽ ra tay tấn công trước những kẻ thù nếu thấy họ có thể gây nguy hiểm cho mình, tổng thống Bush (con) được sự phò tá của những tay hiếu chiến trong bộ tham mưu đã mở lại hồ sơ Iraq.
Nói theo triết gia Descartes là con người ta hành động theo lý lẽ, ai cũng có lý lẽ của họ ngay cả thằng ăn cướp cũng vậy. Và quốc gia cũng vậy khi tiến hành chiến tranh. Ví dụ như khi quân Thanh tiến quân vào Hà Nội với chiêu bài giúp Lê Chiêu Thống khôi phục lại nhà Lê, hay quân Minh chiếm VN với lá cờ giúp Trần Ích Tắc của nhà Trần bị Hồ Quý Ly chiếm ngôi. Hay khi quân Pháp đô hộ VN cũng với danh từ đẹp đẽ là đi khai phóng cho dân nhược tiểu.
Chính quyền Bush lấy lý do giải giới các vũ khí tàn sát của Iraq và giúp nước này lập nên chế độ dân chủ từ trong bàn tay sắt máu của Saddam Hussein. Các nước khác trong LHQ thì cho rằng chiến tranh có thể tránh được, hãy cho thì giờ để ban thanh tra làm việc. Mỹ thì bảo rằng các nước khác cứ cù nhầy không chịu giải quyết vì những mâu thuẫn quyền lợi như Pháp, Đức, Nga,Tàu. Làn sóng biểu tình chống chiến tranh lan rộng khắp thế giới. Có lý do cho là vì quyền lợi dầu lửa của Mỹ như là một biểu ngữ với hàng chữ War For Oil. Như câu tuyên bố của bà thứ trưởng ngoại giao Đức đã ví Bush giống Hitler là dùng chiến tranh để giải quyết trì trệ kinh tế. Có người cho là tài phiệt vũ khí và dầu lửa sẽ có lợi trong cuộc đánh Iraq lần này.
Và đến bây giờ thì chắc chắn chiến tranh với Iraq sẽ xảy ra, Bush ra lệnh Saddam có 48 giờ để lưu vong. Nếu y ra đi thì quân Mỹ vẫn tiến vào thủ đô Baddag êm thắm, còn không thì bom đạn sẽ rót đầy với mức khủng khiếp nhất.
Nhiều nước như Nga, Pháp, Đức trong Hội Đồng Bảo An cho là không hợp pháp trong khi Mỹ và hai đồng minh thân cận là Anh và Tây Ban Nha bảo là hợp pháp vì chỉ tuân theo nghị quyết cũ của LHQ. Một điều chắc chắn sẽ tới là tổ chức quốc tế này từ nay sẽ hết hiệu quả trong những bước giải quyết những mâu thuẫn giữa các quốc gia. Một thí dụ là Trung quốc sẽ chiếm Đài Loan bảo là đây là chuyện nội bộ, hay Tàu vài chục năm nữa hùng mạnh sẽ ra tay xâm lăng các nước nhỏ chẳng hạn như Việt Nam thì LHQ cũng chẳng làm gì được.
Người ta còn chờ hai ngày nữa để coi chiến tranh Iraq ra sao và vai trò của Mỹ trong hậu chiến. Chiến tranh và hòa bình là hai mặt của đồng tiền cắc lúc xấp lúc ngửa. Thời của Bush (cha) chiến tranh, trong tám năm thời Clinton hòa bình, nước Mỹ chú trọng đối nội nên mới bầu cho ông ta thay Bush. Và sau hai nhiệm kỳ Dân chủ, Cộng hòa lên thế, Bush (con) trở lại chuyện chiến tranh.
Người viết  đã thắng cá độ chầu cà phê là Bush sẽ đánh Iraq vì coi cách đổ quân Mỹ vào vùng này cũng như cách hành xử của ông ta trong cương vị tổng thống. Dù sao mình vẫn là tên da vàng lưu vong, chỉ đứng bên lề chính trị của quốc gia này, bàn chuyện cho đỡ buồn. Bạn đồng ý hay không đồng ý thì cũng là tranh luận suông mà thôi.
17-03-2003

ĐỔI TÊN SENTER RD THÀNH ĐƯỜNG SÀI GÒN

“ Anh chị ơi, mời ký tên, chữ ký của anh chị sẽ thay đổi lịch sử nước Mỹ “ đó là lời kêu gọi của anh Nguyễn Nam trong hội Tết Fairground và Hội Xuân Dowtown vào hai ngày thứ bảy và chủ nhật mồng một và mồng hai Tết Quý Mùi. Mới nghe tưởng là anh nói đùa nhưng ngẫm nghĩ thì thấy anh có lý vì các chữ ký của đồng hương VN trong bản kiến nghị lên thành phố San Jose xin đổi tên đường Senter Road  thành đường Sài Gòn,  việc này nếu thành công thì quả thật có tạo sự mới mẻ cho lịch sử miền Bắc Cali, dĩ nhiên là lịch sử Hoa Kỳ dù chỉ là một sự đổi thay nhỏ bé đối với đất nước vĩ đại này. Nhưng đối với cộng đồng người Việt tị nạn thì quả thật là một điều to tát.
Mặc dù không có quảng cáo, mặc dù sự chuẩn bị rất đơn sơ, mặc dù chỉ có riêng một cá nhân Nguyễn Nam và hai ba người bạn trợ giúp nhưng kết quả thật đáng khích lệ. Trong ngày thứ bảy tại Fairground và chủ nhật tại Dowtown đã thu nhận được 2762 chữ ký của đồng bào.
Nguyễn Nam đã ứng cử vào chức nghị viên thành phố Santa Clara năm vừa rồi, dù không thắng cử nhưng anh đã tạo được một tiếng vang trong cộng đồng. Nhưng điều đáng nói tới là tinh thần hăng hái hoạt động xã hội và chính trị rất nồng nhiệt trong con người của anh.
Đầu tiên anh đưa ra ý kiến muốn vận động chữ ký của các đồng hương xin đổi tên đường Senter Rd thành đường Hai Bà Trưng vì đây là hai người nữ anh hùng của dân tộc VN mà người Hoa Kỳ rất kính phục khi nghe giới thiệu đến. Nhưng ba chữ này hơi khó đọc và nhớ đối với họ nên bạn bè đã góp ý lấy tên Sài Gòn.
Ý kiến xin đổi tên đường Senter Rd thành đường Sài Gòn quả thật mới mẻ và gây sự xúc động cho mọi người trong hai ngày Xuân. Nhiều bác lớn tuổi, nhiều anh chị khi đi du Xuân trong đám đông chen chúc khi thấy tờ giấy ghi hàng chữ lớn: Mời Đồng Bào Ký Tên- Đổi Senter Rd thành Sài Gòn Rd đã tự động đến bàn ký. Số người tham dự hội Xuân hội Tết cả mấy chục ngàn nhưng vì ban vận động lấy chữ ký chỉ có mấy người gồm Nguyễn Nam, Nguyễn Long, Trần Chí Phúc và thêm một người bạn của anh Long tên Xuân, nên sức người có hạn chỉ thu được con số chưa tới ba ngàn. Chỉ tiêu đặt ra là năm ngàn chữ ký để từ đó mới có thể nói chuyện với hội đồng thành phố San Jose. Nguyễn Nam bảo rằng càng nhiều chữ ký thì mình càng bớt cực nhọc khi vận động với họ.
Nhưng với 2762 chữ ký của đồng bào trong hai ngày đầu ra quân thì là một sự thành công lớn cho ban vận động. Điều đáng nhắc tới là sự ủng hộ tối đa của những người ký tên đã làm tinh thần càng thêm hăng hái.
Anh Nguyễn Nam cho biết sẽ tổ chức một cuộc họp báo mời giới truyền thông báo chí tới để trình bày thêm chi tiết những bước đi kế tiếp và nhờ phổ biến tin này tới đồng bào để lấy thêm chữ ký nữa. Hy vọng sẽ có thêm những người thiện chí cùng tham gia vào ban vận động đổi tên Senter Rd thành Sài Gòn Rd. Riêng cô Madison Nguyễn, người vừa đắc cử vào học khu Franklin-McKenley hứa sẽ viết dùm cho một lá thư gởi lên thị trưởng San Jose kèm theo danh sách ít nhất là năm ngàn chữ ký đồng hương.
Bắc Cali dù là đứng hàng nhì sau Nam Cali nhưng chưa có hành động nào đạt được kết quả như khu phố Little Saigon của Westminster, những tên đường VN ở phố Houston Texas, hay tượng Mẹ Bồng Con đi vuợt biển ở thủ đô Ottawa, Canada.
Con đường Senter Rd rất đông VN cư ngụ và có nhiều cơ sở thương mại người Việt, chuyện xin đổi tên đường này thành đường Sài Gòn là có thể thực hiện được với sự quyết tâm của toàn thể đồng hương Bắc Cali. Có ý kiến cho rằng cũng có khả năng thêm tên Sài Gòn vào tên đường Senter giống như ở thành phố Oakland có các tên đường bằng chữ Tàu bên cạnh chữ số.
Công cuộc vận động thay đổi tên đường của người VN tại San Jose còn dài có thể kéo tới nhiều năm, đòi hỏi vừa công sức vừa tài chánh nhưng nó phải có bước đầu tiên . Và với gần ba ngàn chữ ký của đồng bào, đã tạo niềm hứng khởi cho mùa Xuân Quý Mùi. Hy vọng cái tên Sài Gòn thân thương một ngày không xa sẽ xuất hiện trên bảng đường của thành phố San Jose. Cám ơn Nguyễn Nam, nhà hoạt động chính trị hăng hái của cộng đồng đã làm công tác dễ thương này. Xin các hội đoàn, những người thiện chí và các đồng hương cùng tham gia giúp đỡ Ban Vận Động Xin Đổi Tên Senter Rd Thành Sài Gòn Rd được thành công.

09-02-2003

AI ĐỐT RỪNG U MINH – Tặng Nguyễn Cao Thăng- Hội Aùi Hữu Cà Mau

Tôi chưa được hân hạnh thấy rừng U Minh, chỉ nghe trong sách vở nói là ở khu vực tận miền nam của đất nước, gần biển thuộc tỉnh Kiên Giang với những cây tràm, cây đước chen chúc mọc trên vùng đất sình lầy tạo thành khu rừng âm u cho nên có tên là U Minh. Nào cá tôm và thủy sản dồi dào, nào là những sản phẩm của rừng như mật ong, dầu tràm làm từ cây tràm, nào là than đước và bao nhiêu thú vật phong phú của khu rừng miền Nam này.
Vào những ngày cuối tháng tư năm hai ngàn lẻ hai, rừng U Minh Thượng đã bị thiêu hủy hoàn toàn và U Minh Hạ còn lại một phần, diện tích cháy lên tới mười mấy ngàn mẫu với bao nhiêu tài nguyên mất đi mà cả mấy trăm năm hay cả ngàn năm thiên nhiên mới tạo dựng lại. Môi trường sinh thái chung quanh bị ảnh hưởng nặng nề chưa kể đến ảnh hưởng kinh tế… Đất đai đã hẹp so với dân số càng ngày càng đông thế mà lại không biết giữ gìn lại phá hủy thêm.
Theo báo trong nước thì cơ quan trách nhiệm đã mua 15 tấn hạt tràm để gieo giống, nhưng biết đến bao giờ rừng mới trở lại nguyên trạng. Một điều rất hiển nhiên cho thấy là rừng bị cháy là do con người chứ không phải do trời. Có kẻ cho là dân đi lấy mật ong đốt bùi nhùi làm cháy rừng, có kẻ đổ thừa vì muốn bắt cá nên làm cạn nguồn nước để cho bùn khô và từ đó dễ bị cháy rừng. Có người bảo rằng từ xưa đến nay rừng cũng bị cháy chút đỉnh nhưng dập tắt, và trong hoàn cảnh chiến tranh bom đạn tàn phá mà rừng U Minh vẫn còn. Nay đất nước hòa bình thế mà rừng bị tiêu hủy hoàn toàn. Vì lý do gì?
Báo chí trong nước dù có ồn ào loan tin nhưng vẫn chưa dám đặt vấn đề mạnh dạn về thủ phạm đã đốt rừng và bộ phận chữa cháy rừng đã không tích cực làm việc. Người ta đồn rằng có một thế lực nào đó vì quyền lợi riêng tư của họ đã làm cho rừng U Minh không còn hiện hữu. Cái chuyện nguyên cả một hệ thống công an buôn bạch phiến để bây giờ lan tràn trong giơí trẻ, cái chuyện cắt đất dâng biển để trả ơn cho Trung Quốc mà họ còn làm được thì sá gì cái rừng U Minh.
Rừng U Minh bị cháy làm Hà Nội cử cả mấy trăm công an vào điều tra chứng tỏ có chuyện lớn. Một người quen từ Mỹ về Sài Gòn có gặp một Pháp kiều và trong lúc xem truyền hình loan tin rừng cháy, Pháp kiều này tỏ vẻ bực mình chê các cơ quan trách nhiệm không biết cách chữa cháy rừng. Người quen bảo là có thể họ biết nhưng không làm thì tên Pháp kiều hỏi là người quen có biết cách chữa không, anh ta cười đáp là biết. Pháp kiều không tin và hai bên đánh cá một chầu ăn tối. Người quen nói là họ có thể dùng mìn gắn vào các cây tràm chưa bị cháy, rồi dùng nước tưới ướt một khoảng đất rộng bên ngoài các cây này tạo khoảng cách để lửa không thể lan ra. Khi lửa tới các cây tràm có gắn mìn thì mìn nổ làm gãy cây xuống để không tạo thêm mồi cho ngọn lửa lan rộng ra. Điều quan trọng nhất là rừng U Minh dưới các cây tràm là cả một nguồn nước dồi dào của các con lạch chằng chịt tha hồ mà xử dụng để chữa cháy. Đại khái là cách chữa rừng như thế, rốt cuộc tên Pháp kiều thua chầu ăn tối.
Người quen cho tôi một chai mật ong của rừng tràm U Minh, có hương vị đặc biệt của cây tràm. Tôi nâng niu không dám uống nhiều vìø từ nay sẽ không còn mật ong tràm nữa vì rừng đã tiêu hủy. Tôi tìm cuốn truyện Hương Rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam để có lại cái không khí của quê hương của cây tràm cây đước đó nhưng không có, tôị nhớ loáng thoáng những trang tả đời sống dân miền này của nhà văn Bình Nguyên Lộc. Tôi nhẩm vài câu thơ của thi sĩ Hồ Đắc Bữu trong bài Rừng U Minh Ta Không Thấy Em mà nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ thành bài hát và ca sĩ Khánh Ly đã trình bày trong một cuốn băng đã mấy chục năm: “ Trên cao gió hát mây như tóc. Tràm đứng như em một dáng gầy. Mỗi con lạch là mỗi xót xa. Mỗi dòng sông là một tuổi già. Thành phố đâu đây chừng mất dạng. Cuộc chiến già nua như tiếng ca.”  Chỉ có mấy câu thơ mà tôi nhớ mãi. Lạch đó, sông đó, nước đầy rẫy mà để rừng cháy, thật vô lý mà cũng thật đau lòng.
San Jose 17-5-2002

BIỂU TÌNH RA MẮT SÁCH HỒI KÝ PHẠM VĂN LIỄU TẠI SAN JOSE

Trong lịch sử sinh hoạt của cộng đồng người VN tại Bắc Cali, có rất nhiều buổi ra mắt sách suốt hơn hai chục năm qua, có buổi thất bại vì ít người tham dự, có buổi thành công với số lượng khán giả tham dự đông đảo và bán được nhiều sách. Có buổi tẻ nhạt vì chẳng có tiết mục nào hào hứng từ tác giả cho tới nội dung cuốn sách cũng như chương trình văn nghệ phụ diễn. Nhưng cũng có buổi gây cấn vì bản thân tác giả xuất hiện đã gây nên một sự tranh cãi. Thí dụ như cựu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đến nói chuyện tại khách sạn Mariott Hotel ở Sunnyvale cách đây hơn mười năm đã có hàng trăm người biểu tình trong đó có cả nghệ sĩ Hùng Cường bay từ Nam Cali lên, họ phản đối vì cái tội của ông Thiệu đã làm mất miền Nam đâu còn tư cách gì để nhìn lại dân chúng chứ chưa nói tới việc trở lại chính trường.
Trước đó tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng ra mắt cuốn Bí Mật Hồ Sơ Dinh Độc Lập tại nhà hàng Maxim( nay là Flourish Gardens) ở trên đường Monterey cũng tạo nên không khí căng thẳng.
-Tuy nhiên ra mắt sách mà có biểu tình chống đối thì lần đầu tiên tại San Jose là trường hợp cuốn hồi ký của cựu đại tá Phạm Văn Liễu với tựa đề Trả Ta Sông Núi. Có khoảng hăm mấy người là cựu cảnh sát VNCH cầm cờ tới đả đảo kêu ông ta bôi nhọ chính nghĩa quốc gia, đưa khẩu hiệu “ Phạm Văn Liễu ăn cháo đá bát”, có kẻ nặng lời gọi ông là “ Việt gian”. Người biểu tình phát tờ truyền đơn có trích ra những câu trong cuốn hồi ký với ghi chú số trang. Người quản lý của rạp Le Petit Trianon chẳng hiểu lý do thấy la ó ồn ào chạy ra bảo không được gây náo loạn. Cảnh sát đựợc kêu tới cũng chẳng hiểu tại sao một cựu sĩ quan cao cấp ra mắt sách mà rồi cũng bị biểu tình.
Người biểu tình và khách tới tham dự đều quen biết nhau. Ba Vân, biệt hiệu của một cựu lính không quân, kinh doanh ngành xe bán thức ăn trưa, từng ủng hộ và tham gia nhiều cuộc biểu tình chống Cộng, lần này lại là một trong những người giúp đỡ cho buổi ra mắt sách về giải khát. Ông ta mua cuốn sách rồi ra tranh luận với người biểu tình, giở từng trang sách tìm kiếm những dòng chữ, rồi kết luận rằng phe biểu tình đã trích dẫn không hợp lý, lấy câu đầu của một đoạn văn rồi ghép với câu giữa đoạn để rồi kết tội Phạm Văn Liễu bôi nhọ quân đội VNCH.
Cựu trung tá Lâm Sanh Kim, cũng là một người hăng hái biểu tình trước đây, đi tham dự ra mắt sách cũng ngao ngán cho rằng đã lạm dụng quyền biểu tình, biểu tình nhiều quá sẽ nhàm. Một số ý kiến cho rằng nếu ai không đồng ý tác giả thì cứ viết bài đăng báo hay vào trong rạp tranh luận với ông ta.
-Cái tên Phạm Văn Liễu đựợc chú ý chẳng phải vì chức vụ đại tá VNCH hay là chức Tổng Giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia hay đã tham gia vào vụ đảo chánh TT Ngô Đình Diệm năm 1960 cùng với tướng nhảy dù Nguyễn Chánh Thi mà là vì ông ta là nhân vật số hai cùng với nhân vật số một là đề đốc Hoàng Cơ Minh của tổ chức gọi là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng VN đã tạo nên một cao trào ở hải ngoại suốt thập niên 80. Qua phiên tòa tại San Jose cuối năm 1994 xử vụ Mặt Trận kiện các tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong, Cao Thế Dung và Nguyên Vũ về vụ vu khống Mặt Trận giết vợ chồng ký giả Lê Triết, cựu đại tá Liễu tức Tổng Vụ Trưởng Hải Ngoại Trần Trung Sơn đã ra toà đứng về phe báo chí, vạch rõ những nội tình của tổ chức này.
Ông ta bảo là đã ở ẩn, không tham gia chuyện thị phi nữa. Cách đây mấy năm ông Liễu bị tai biến mạch máu não tại Paris,phải nhờ nữ bác sĩ Nguyệt Meilert từ San Jose sang Pháp đưa về Mỹ, và từ đó ông ngồi xe lăn và tay trái bị liệt.
Ông viết hồi ký, không chỉ một cuốn mà là tới ba cuốn chia làm ba giai đoạn lịch sử, cuốn một từ niên thiếu cho tới lúc đảo chánh, cuốn hai từ 1963 cho tới 1975 và cuốn ba từ 1975 tới 1985. Có lẽ cuốn ba nói tới giai đoạn thành lập Mặt Trận là cuốn mà nhiều người mong đợi nhất vì ông Liễu là người biết nhiều nhất qua khúc quanh lịch sử này.
-Kẻ thức giả cho là ông Liễu tham quá thay vì viết một cuốn lại kéo dài tới ba cuốn, có thể là vì lý do thương mại chăng? Đọc qua cuốn đầu thì thấy ông dài dòng về một số chi tiết không cần thiết, về những người bạn vô danh của ông, về những sự kiện lịch sử đã được nhiều người viết trong sách vở, và có thể những sự kiện mà ông ta chỉ nghe kể lại hay đọc chứ không hề trải qua.
Có kẻ nghi ngờ rằng có những đoạn  không do ông viết mà có người chấp bút thế cho ông vì văn phong có thay đổi.
Cái tựa đề Trả Ta Sông Núi cũng là một yếu tố thời thế mang tính thương mại vì đang có chuyện Hà Nội cắt đất dâng biển chứ cuốn hồi ký của Phạm Văn Liễu chẳng có liên quan gì tới, nó chỉ là hồi ký như những cuốn hồi ký chính trị khác. Đó cũng là lý do đài Quê Hương đã tích cực quảng cáo cho cuốn sách trước cả tháng rồi khi đọc được sách thì hỡi ôi có chuyện chống đối. Giáo sư Nguyễn Châu đi tham dự đã phàn nàn với kẻ đồng hành rằng cái tựa sách đã đánh lừa độc giả. Chuyện thương mại mà, có nói thêm, có nổ một tí cũng là chuyện đời thường. Phạm Văn Liễu có tài nói, nếu không thì đã không dựng nên chuyện chiến khu quốc nội giải phóng VN.
-Có nhiều khuôn mặt đấu tranh quen thuộc tham dự, đa số là bạn bè tác giả, có một số cựu đoàn viên Mặt Trận thuộc cánh ông ta năm cũ, một vài người nghe tiếng tăm ông.
Trong số các diễn giả thì giáo sư Nguyễn Văn Canh khôn ngoan phát biểu chung chung rồi bỏ về sớm, luật sư Đỗ Doãn Quế thì nói lạc đề cứ lo bào chữa chuyện cuốn sách bị biểu tình. Và tác giả thì tuổi già bắt đầu lẩm cẩm, nói dai, nói dài, cứ lặp lại ý tưởng, không chịu soạn bài trước, làm mất đi cái cảm tình tốt đẹp của khán giả đã nể trọng ông ta trong quá khứ.
Phần vấn đáp lẽ ra không cần thiết vì đa số khán giả đến mua sách chưa đọc sách làm sao mà có ý kiến phê bình tranh luận. Chuyện xảy ra nữa thế kỷ, có mấy ai đã từng trải qua có mặt trong rạp để mà hỏi tác giả. Có lẽ chuyện Mặt Trận là còn nóng hổi. Đề nghị tác giả gom hai cuốn sắp xuất bản thành làm một, chỉ nên viết những gì mình trải qua và thật cô đọng chính xác. Lần xuất quân tại San Jose này chắc là lần cuối cùng. Cứ mỗi lần xuất hiện là Phạm Văn Liễu gây sôi nổi như cuộc đời của ông trong quá khứ. Cuốn sách đã có những đoạn nói thẳng và không khéo léo đã gây mất lòng tạo nên cuộc biểu tình nho nhỏ. Nó cũng là dấu hiệu cho thấy sách sẽ bán chạy, mặc dù giá trị chỉ là mức trung bình. Còn hi vọng ở cuốn sau, tác giả sẽ trau chuốt, cô đọng ngôn ngữ và thành thật với chính mình hơn để cuốn hồi ký Phạm Văn Liễu xứng đáng được nhiều người tham khảo.
– Tàn cuộc, còn lại dăm ba tên ký giả bàn chuyện hậu. Cũng là những khuôn mặt quen thuộc như Du Phong cựu quận trưởng, trung tá Nguyễn Mộng Hùng, cựu cò quận nhì Sài Gòn từng đưa tiễn tướng Thi và tá Liễu qua Nam Vang lưu vong, Lê Bình tức Mười Chuối đang viết cho VNTD, Lê Phong, Trung một thành viên cũ của Thanh Niên Quốc Gia có Website khá phổ biến, Thư Sinh Phạm Tài Tấn và vài người trong nhóm biểu tình nán lại. Tất cả đều công nhận là buổi ra mắt coi là dzui vì sôi nổi nhưng không mất hòa khí đến đổi tệ hại lắm. Hai chục năm đã trôi qua trên San Jose, có những tên đã mất, có những tên cũng còn sót lại và chứng kiến nhiều thay đổi của cộng đồng. Nhưng ngày chủ nhật này 21 tháng 7 đáng nhớ là chuyện ra mắt sách được biểu tình. Ngày này cũng gần ngày ký hiệp định Geneve chia đôi VN, 20 tháng 7 năm 1954, lấy sông Bến Hải làm ranh giới. Nhưng lịch sử rồi cũng qua đi, lớp trẻ có mấy ai nhớ tới. Chuyện đất nước rồi sẽ ra sao?
25-07-2002

VỤ ÁN TRIỆU PHÚ MỸ CƯỚI VỢ 13 TUỔI TẠI VIỆT NAM NỮ BÍ THƯ CỦA ROSTOKER ĐÃ TỐ CÁO VỚI CHÍNH QUYỀN MỸ (phần hai)

San Jose- Vụ tòa án liên bang Hoa Kỳ tại thành phố San Jose xử nhà triệu phú độc thân Michael Rostoker tội ra nước ngoài làm tình với trẻ em đã kết thúc vào ngày thứ năm 2-5-2002 với biểu quyết của bồi thẩm đoàn là ông này đã phạm 11 tội gồm 4 tội du lịch VN để quan hệ tình dục với cô bé Phan Thị Thuỳ Dung 13 tuổi ở Nha Trang, 4 tội vì dùng Internet để dụ dỗ chuyện tình dục và 3 tội vì toan tính đưa cô này vào Hoa Kỳ trái phép. Toà sẽ tuyên án vào tháng 8 và mức độ tù của Rostoker là từ 2 năm cho đến 3 năm. Nhưng có thể nhà triệu phú kiêm luật sư kiêm chủ hãng điện tử này kháng án theo lời tuyên bố của luật sư Swanson là có cơ sở tạo nên một sự xét xử lại ở toà cấp cao hơn.
Vào năm 1994, trước tình trạng lạm dụng tình dục với trẻ em ngày càng gia tăng nhất là ở các nước nghèo thì chính phủ Mỹ đã ban hành luật phạt tù tối đa 10 năm và 250 ngàn tiền phạt cho công dân Hoa Kỳ nào ra nước ngoài làm chuyện xấu xa này. Cho đến nay chỉ bắt được khoảng 20 vụ và hơn một nữa can phạm bị xử có tội. Đa số kẻ vi phạm luật là dân trí thức và có tiền. Michael Rostoker cũng không ngoại lệ, không những thế ông ta là kẻ nổi tiếng, cho nên bản tin ông bị bắt tại phi trường San Francisco vào tháng 9/1999 đã loan khắp thế giới. Vào tháng 4/2002 tin tòa xử ông ta cũng được lên mặt báo và Internet. Hội bảo vệ nhân quyền và bảo vệ trẻ em trước chuyện lạm dụng tình dục của người lớn cũng loan tin với dụng ý cảnh cáo những kẻ sau này.
Riêng cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng xôn xao vì câu chuyện có dính tới cô bé Việt Nam “ 13 tuổi ” cũng như vấn đề luật pháp tại xứ văn minh này. Trong bản tin báo chí thì Rostoker bị buộc tội rất nặng nề như mua trẻ em để làm kẻ nô lệ tình dục với số tiền lên tới 150 ngàn đô la… Chuyện toà án là vậy vì phía công tố bao giờ cũng buộc tội tối đa và phe biện hộ phải lo cãi lại và ông toà là kẻ quyết định. Người hiểu biết khi đọc bản tin có một thắc mắc là làm sao câu chuyện đổ bể ra để chính quyền Mỹ biết được, vì đây là mối quan hệ riêng tư giữa hai con người và bối cảnh là xứ Việt Nam.
Người viết bài này vốn thích những câu chuyện tòa án đặc biệt có liên quan tới Việt Nam và c%